Nhà thơ Nguyễn Khuyến – Tiểu sử và những bài thơ hay nhất của nhà thơ Nguyễn Khuyến

Nhà thơ Nguyễn Khuyến - Tiểu sử và những bài thơ hay nhất của nhà thơ Nguyễn Khuyến

Nhận xét về nhà thơ Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu từng nói: “Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”. Nổi bật trong các tác phẩm của Nguyễn Khuyến là những bài thơ viết về nước non Bắc Bộ, phần lớn cuộc đời nhà thơ sống ở vùng nông thôn. Nên nông thôn Việt Nam là hình ảnh xuất hiện nhiều nhất trong các tác phẩm của thi nhân. Ngoài ra cũng không thể không nhắc đến mảng thơ châm biếm, đả kích xã hội đương thời. Sau đây là những tác phẩm hay nhất của nhà thơ Nguyễn Khuyến.

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khuyến

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khuyến
Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Khuyến

Nhà thơ Nguyễn Khuyến tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn, tự là Miễu Chi. Ông sinh ngày 15/02/1835 (tức ngày 18 tháng Giêng năm Ất Mùi), tại quê ngoại là làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Hà Nam nay thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Quê nội của nhà thơ ở làng Vị Hạ, xã Yên Đổ này là xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

Nhà thơ Nguyễn Khuyến là con trai của cụ Nguyễn Tông Khởi và mẹ là Bà Trần Thị Thoan. Có thể nói ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo. Hai bên gia đình đều có truyền thống khoa bảng. Bố ông đỗ 3 khóa tú tài và làm nghề dạy học, mẹ ông nguyên là con của Trần Công Trạc, từng đỗ tú tài thời Lê Mạc.

Thuở nhỏ, Nguyễn Khuyến học với cha mình cho đến năm lên 8 tuổi ông theo gia định về quê nội ở Bình Lục để sinh sống. Nguyễn Khuyến được biết là một người thông minh, hiếu học. Năm 1864 ông đỗ đầu cử nhân.

Năm sau tức năm 1865, ông thi trượt kỳ thi Hội, nên tu chí ở lại kinh đô học tại Trường Quốc Tử Giám đổi tên từ Nguyễn Thắng thành Nguyễn Khuyến với hàm ý phải nỗ lực hơn nữa.

Đến năm 1871, ông mới thi đỗ Hội Nguyên và Đình Nguyên. Kể từ đó Nguyễn Khuyến thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ.

Vào năm 1873, ông được bổ làm Đốc Học, rồi thăng Án Sát tại tỉnh Thanh Hóa. Đến năm 1877, nhà thơ Nguyễn Khuyến được thăng làm Bố Chính tỉnh Quảng Ngãi. Năm sau đó, ông bị giáng chức và được điều về Huế được giữ chức quan nhỏ với nhiệm vụ toản tu Quốc Sử Quán. Năm 1884 Ông cáo quan về quê Yên Đổ và ông qua đời ở đây.

Nhà thơ Nguyễn Khuyến được biết đến là một vị quan có phẩm chất trong sạch, mặc dù làm quan nhưng ông nổi tiếng là người rất thanh liêm, chính trực. Nhiều những giai thoại kể về đời sống và những gắn bó của ông với nhân dân.

Hoàn cảnh lịch sử thời nhà thơ Nguyễn Khuyến

Nguyễn Khuyến ra làm quan giữa lúc nước mất, nhà tan. Thời gian này, triều đại nhà Nguyễn đang ở giai đoạn lụi tàn. Cơ đồ của nhà Nguyễn gần như sụp đổ hoàn toàn nên giấc mơ trị quốc bình thiên hạ của ông không thực hiện được.

Ở giai đoạn này, Nam Kỳ rơi vào tay thực dân Pháp và đến năm 1882 quân Pháp bắt đầu tiến đánh Hà Nội. Vào Năm 1885, thực dân Pháp lại tấn công vào kinh thành Huế. Kinh thành nhà Nguyễn bị thất thủ, Tôn Thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi nhân đứng lên đấu tranh, phong trào được hưởng ứng khắp nơi. Nhưng cuối cùng Phong trào Cần Vương tan rã.

Có thể nói, nhà thơ Nguyễn Khuyến sống giữa một thời kỳ mà các phong trào đấu tranh yêu nước thời bấy giờ, phần lớn các phong trào đấu tranh yêu nước đều bị thực dân, đế quốc dập tắt.

Nhà thơ Nguyễn Khuyến thời gian này cảm thấy bất lực vì không thể làm được gì để có thể thời đổi được thời cuộc lúc bấy giờ nên ông xin cáo quan về ở ẩn.

Nhà thơ không chỉ là một tâm hồn Việt Nam tiêu biểu. Ông còn được coi là một nhân cách Việt Nam tiêu biểu thời bấy giờ, cái thời đại mất nước, con người dân tộc Việt Nam bị chà đạp, đói rét, lầm than. Về ở ẩn nơi làng quê nhưng ông vẫn giữ được cái gọi là khí tiết, phẩm chất của một người yêu nước chân chính và hòa mình cùng với nhân dân.

Ông là một trong những nhà thờ đau với nỗi đau của nhân dân, ông buồn vì sự nghèo đói của họ, nhưng ông càng đau đớn hơn khi nhìn thấy cảnh đất nước bị dày xéo và cảm thấy day dứt nỗi đau của một người ưu thời mẫn thế.

Những tác phẩm nổi bậc của nhà thơ Nguyễn Khuyến

Các tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Khuyến bao gồm: Yên Đổ thi tập, Quế Sơn thi tập, Cẩm Ngữ, Bách Liêu thi văn tập, cùng với đó là nhiều những bài ca, văn tế, hát ả đào và nhiều câu đối truyền miệng.

Trong tác phẩm Quế Sơn thi tập có khoảng hơn 200 bài thơ được viết bằng chữ Hán và hơn 100 bài thơ được viết bằng chữ Nôm với nhiều các thể loại khác nhau.

Trong bộ phận những nhà thơ Nôm thời bấy giờ thì Nguyễn Khuyến vừa là nhà thơ trào phúng, vừa là một nhà thơ trữ tình nhuộm đậm tư tưởng Lão Trang và triết lý Đông Phương. Thơ chữ Hán của nhà thơ hầu hết được viết là thơ trữ tình. Có thể nói là cả 2 lĩnh vực trên thì nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng đều rất thành công.

Những tác phẩm của nhà thơ đã khiến cho người đọc của bao nhiêu thế hệ xúc động và đang phải suy ngẫm. Những câu thơ là những băn khoăn day dứt, với nước mắt và nụ cười của nhà thơ. Chúng ta, nên tự hào vì nên văn học Việt Nam đã có một nhà thơ như thế.

Tuyển tập những bài thơ hay và nổi tiếng của nhà thơ Nguyễn Khuyến

Top những bài thơ hay nhất của nhà thơ Nguyễn Khuyến – Thơ chữ Hán

Top những bài thơ hay nhất của nhà thơ Nguyễn Khuyến - Thơ chữ Hán
Top những bài thơ hay nhất của nhà thơ Nguyễn Khuyến – Thơ chữ Hán

Túy Ngâm

Dục tri Tuý Ông lỗi lạc chi kỳ tài,
Dã tu nhất ẩm tam bách bôi.
Hữu thì thổ mạt tác vân vũ,
Diệc hoặc tranh nhãn vi phong lôi.
Lý Bạch bộ kình sự phi đản,
Bành Trạch thái cúc tâm bất quai.
Thế gian dục tuý, tuý bất đắc,
Toán lai vạn sự câu trần ai.

Xuân Dạ Liên Nga

Xuân dạ liên nga
Tiện nhĩ tiêm tiêm nhất vũ hàn,
Đầu minh nhi tử tử nhi an.
Nhược vi thảng thốt lâm nghi dị,
Đáo đắc thuân tuần biện diệc nan.
Tố phú tri năng do vị dẫn.
Đương tiền danh lợi bất tương quan.
Cô đăng sát nhĩ do liên nhĩ.
Đáo đắc thành hôi lệ vị can.

Khóc Dương Khê

Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau;
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời?
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo;
Có khi tầng gác cheo leo,
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang;
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.
Có khi bàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích, điển phần trước sau.
Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn,
Phận đấu thăng chẳng dám tham trời;
Bác già, tôi cũng già rồi,
Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là!
Muốn đi lại tuổi già thêm nhác,
Trước ba năm gặp bác một lần;
Cầm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can,
Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày;
Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời.
Ai chẳng biết chán đời là phải,
Vội vàng sao đã mải lên tiên;
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa;
Giường kia treo những hững hờ,
Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.
Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương;
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!

Hạ Nhật

Khinh phong nộn thử hạ chi sơ,
Đại tuý cuồng ngâm độc hữu dư.
Thị phụ thừa bàn cung thục lệ,
Điền ông phát cẩu mại tiên ngư.
Túc tinh sạ khởi nhất văn trĩ,
Cựu cú vị vong tần kiểm thư.
Bồng tất thử gian dung lão bệnh,
Thê thê trần lộ cánh hà như?

Độc Thán

Thập niên hồi thủ độc sầu dư,
Thế sự nhân tình tiệm bất như.
Đồng loại tương tranh trúc phược trúc,
Lợi tâm vô yếm ngư thôn ngư.
Khả liên kim nhật thuỳ vi ngạnh,
Sở dĩ tiền nhân dục phế thư.
Ký ngữ thành môn tương thức giả,
Phong trần mãn lộ vị quy dư.

Giáp Giang

Giáp giang trùng lai lộ,
Tà dương nhất trao khinh.
Quần âu nhập dạ hắc,
Viễn tụ bán không thanh.
Phong cấp kinh ngư đĩnh,
Sa thâm trệ khách trình.
Lữ hoài vô liêu xứ,
Tận nhật hải đào thanh.

Sơ Hạ

Tạc dạ trì biên sinh nộn hà,
Thần song bất giác hạ sơ qua.
Bán không phong dẫn diên ngâm địch,
Kỷ xứ chi tàng ương lộng ca.
Ấp phụ tương tranh ngôn ngữ tục,
Lân quan bất mị tính tình đa.
Du nhiên phù trượng dục thừa hứng,
Mãn nhãn trần ai nại nhĩ hà?

Ngán Đời

Nghĩ đời mà cũng ngán cho đời
Câu cóp làm sao được với trời?
Chép miệng, lớn đầu to cái dại
Phờ râu, chịu đấm mất phần xôi
Được, thua, hơn, kém, lưng hồ rượu
Hay, dở, khen, chê, một trận cười
Dựa gối bên song toan hoá bướm
Gió thu lạnh lẽo, lá vông rơi

Than Nghèo

Chẳng khôn cũng biết một hai điều
Chẳng tội gì hơn cái tội nghèo.
Danh giá dường này không nhẽ bán,
Nhân duyên đến thế hãy còn theo.
Tấm lòng nhi nữ không là mấy,
Bực chí anh hùng lúc túng tiêu.
Có lẽ phong trần đâu thế mãi,
Chốn này tình phụ, chốn kia yêu.

Vãn Đồng Niên Vân Đình Tiến Sĩ Dương Thượng Thư

Dĩ hĩ Dương đại niên,
Vân thụ tâm huyền huyền.
Hồi ức đăng khoa hậu,
Dữ quân thần tịch liên.
Tương kính thả tương ái,
Tao phùng như túc duyên.
Hữu thời xuất kinh lộ,
Không san văn lạc tuyền.
Hữu thời thượng cao các,
Ca nhi minh tố huyền.
Hữu thời đối quân ẩm,
Đại bạch phù bát duyên.
Hữu thời dữ luận văn,
Đông bích la giản biên.
Ách vận phùng dương cửu,
Đấu thăng phi tham thiên.
Dư lão công diệc lão,
Giải tổ quy điền viên.
Vãng lai bất sổ đắc,
Nhất ngộ tam niên tiền.
Chấp thủ vấn suy kiện,
Ngữ ngôn thù vị khiên.
Công niên thiểu dư tuế,
Dư bệnh nghi công tiên.
Hốt văn công phó chí,
Kinh khởi hoàng hoàng nhiên.
Dư khởi bất yếm thế,
Nhi công tranh thượng tiên.
Hữu tửu vi thuỳ mãi,
Bất mãi phi vô tiền.
Hữu thi vi thuỳ tả,
Bất tả vi vô tiên.
Trần Phồn tháp bất hạ,
Bá Nha cầm diệc nhiên.
Công ký khí dư khứ,
Dư diệc bất công liên.
Lão nhân khốc vô lệ,
Hà tất cưỡng nhi liên

Thu Ẩm

Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy.
Độ năm ba chén đã say nhè.

Thu Dạ Châm Thanh

Canh thâm sương trọng Án cừu khinh,
Tứ cố hàn châm chẩm bạn oanh.
Đảo nguyệt cao đê xâm giác hưởng,
Tuỳ phong đoạn tục bán trùng thanh.
Kinh hồi thú phụ Tương Thành mộng,
Hoán khởi chinh phu nguỵ khuyết tình.
Nhất chủng u sầu tiêu vị đắc,
Viễn sơn hà xứ hựu chung minh.

Cuốc Kêu Cảm Hứng

Khắc khoải đưa sầu giọng lửng lơ,
Ấy hồn Thục đế thác bao giờ?
Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ?
Thâu đêm ròng rã kêu ai đó?
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.

Điền Tẩu

Ngô thôn nhất điền tẩu,
Gia hữu tam thập cẩu.
Mộ hạ thần phát chi,
Ngư hà đắc ngũ đẩu.
Nhược bất lao nhĩ thân,
Hà dĩ hồ nhĩ khẩu.
Mại ngư mãi mễ quy,
Thực bãi hựu bôn tẩu.

Đề Ảnh

Ngô nghiên ngô diện bì,
Ngô tâm ngô phất tri.
Nhật nguyệt tu thiêm bạch,
Phong trần sắc tiệm truy.
Bách bôi hình tặng ảnh,
Thiên tuế ngã vi thuỳ.
Phủ ngưỡng nhất hà tưởng,
Yên ba vô tận kỳ.

Đông Chí

Vân tẩu phong phi sương mãn thiên,
Quang âm tòng thử nhập tân niên.
Xuân hồi cựu kính điểu tri vị,
Thụ phá tân nha hoa dục nhiên.
Áp muộn nhật tương thuần tửu chước,
Uý hàn dạ bão hoả lô miên.
Cận lai lãn hướng tây viên thướng,
Cưỡng khởi phù cung khán thuỷ tiên.

Tiểu Thán

Lịch duyệt phong sương bán bạch đầu,
Nhất quan hạnh đắc lão nhi hưu.
Thế đồ kim hựu đa khả khảm,
Lợi cục nan năng quả oán vưu.
Vị ngã phất tu chung hữu khích,
Thức nhân thoá diện tích tằng ưu.
Bách bôi diệc vị vong tình giả,
Mạc quái môn tiền thỉ độc ngưu.

Trùng Dương Bất Vĩ

Trùng dương bất vũ vị tư ta,
Sắt sắt tây phong nại nhĩ hà.
Hữu khách tống lai hoàng cúc tửu,
Vô nhân khai đắc đỗ quyên hoa.
Bán sơn đảo ảnh tần di hạm,
Vạn lý minh hồng vị định gia.
Bệnh nhãn kiêm chi trần nhiễu thậm,
Bế môn bất xuất diệc hàm ca.

Thu Sơn Tiêu Vọng

Bát diện thôn khư nhất đính cô,
Tài đăng vạn tượng nhập trung đô.
Phong khinh vân lộng Thường Nga ảnh,
Vụ tễ thiên cao Bắc Đẩu khu.
Phẩm vật nhất thiên kim thế giới,
Giang sơn tứ cố ngọc dư đồ.
Sương minh hà xứ thu thanh đáp,
Hoán khởi Âu Dương tháo tứ tô.

Thất Tịch Ô

Chiêm ô chỉ thuỳ ốc,
Hồ vi đầu đính thốc.
Tương truyền giá ngân kiều,
Niên niên thậm lao lục.
Tha xứ khởi vô cầm,
Hà nhĩ thiên thụ độc.
Nãi tri thu phong nghiêm,
Thiên thượng lệnh diệc khốc.

Thiền Sư

Nhân vị tiên sinh ái ngã nhi,
Ái nhi chi mẫu hữu thuỳ tri.
Giá kiều cựu cú phi vô vị,
Lãm kính tiền nhân chỉ tự bi.
Chỉ khủng thế gian vô quả phụ,
Mạc ngôn thiên hạ khiếm thiền sư.
Ái sư dục vị ái nhi giáo,
Giáo đắc nhi thành mẫu hựu si.

Sơn Trà

Xuân lai khách tặng ngã sơn trà,
Tuý lý mông lung bất biện hoa.
Bạch phát thương nhan, ngô lão hĩ,
Hồng bào kim đới, tử chân da?
Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp,
Tiêu sắt thần phong oán lạc già.
Cận nhật tương khan duy dĩ tỵ,
Liễu vô hương khí nhất kha kha!

Văn Tống Quận Công Phó Hữu Cảm

Khí nghiệp thuỳ như Tống quận công,
Y quan thử khứ cánh thành không.
Y Chu Quản Cát thiên thu hậu,
Hán Sở Tuỳ Đường nhất mộng trung.
Nhược sử cửu kinh giai khả tác,
Vị tri đương thế thục vi hùng.
Khả liên thế thái viêm lương thậm,
Khô trúc từ tiền kỷ cúc cung.

Tửu

Thiên sinh ẩm thực thế giai nhiên,
Nghi Địch ưng vi nhất tiểu thiên.
Nghiêu Thuấn dĩ tiền vô Tửu cáo,
Thương Chu chi hậu hữu Tân diên.
Nhược giao khúc bách phi giai phẩm,
Hà dĩ văn chương cánh biệt truyền.
Ngô đạo chí kim tiêu tác thậm,
Huề hồ độc thử tuý trung tiên.

Cảm Sự

Phong tế trần ô hà xứ lai,
Nhật quang câu ảnh đệ tương thôi.
Yên phi giang thượng chu như điện,
Thạch lục sơn yêu pháo tự lôi.
Thế hữu thi thư hà sở dụng,
Thiên sinh thuỷ hoả các vi tài.
Độc cùng ngũ đại doanh hoàn ký,
Thuỷ tín hàn tuyền hữu kiếp hôi.

Cảm tác

Mặc thụ đồng chương thập nhị niên,
Thử thân nhật vọng thánh triều liên.
Bệnh nhân đa sự thả hưu hĩ,
Phúc hữu nhất xan do quả nhiên.
Khứ quốc khởi vô bằng bối tại,
Quy gia vị tất tử tôn hiền.
Mông lung bả trản tòng kim sự,
Chỉ khủng di ô đáo giản biên!

Dục Thúy Sơn

Hải khẩu hữu tiên san,
Niên tiền lũ vãng hoàn.
Liên hoa phù thuỷ thượng,
Tiên cảnh truỵ nhân gian.
Tháp ảnh, trâm thanh ngọc,
Ba quang kính thuý hoàn.
Hữu hoài Trương Thiếu Bảo,
Bi khắc tiển hoa ban.

Đại Mạo Sơ

Kỳ trân sản xuất Lý Sơn châu,
Cân tứ truy tuỳ nhị thập thu.
Thử vật tự tòng quy ngã thủ,
Nhất sinh kỳ hợp thướng nhân đầu.
Hoàng trần tảo đãng quy tàn xỉ,
Bạch phát bồng tùng độc ẩn ưu.
Kỳ thử trinh tâm kham cộng thưởng,
Hà duy văn thái tự minh châu.

Đạo Thất Đạo

Đạo hướng nhân gia xuyên thủ tiền,
Đạo nhân hựu hướng đạo gia xuyên.
Doanh thâu thiên chuyển vô thường cục,
Xuất nhập tuần hoàn nhược túc duyên.
Hoá phạp Ngạn Phương hưu tứ bạch,
Hạnh phi Vương Tố mạc đầu chuyên.
Lợi đồ đáo để hỗn như thị,
Hề độc xuyên tường đạo nãi nhiên.

Đảo Vũ

Nghinh thần dĩ tam nhật,
Bất vũ thần hựu quy.
Tiền giả trương thuý cái,
Hậu giả phụng minh ty.
Dân nộ trách chư thần:
“Thần phi dân hà y?
Bất vũ hà bất cáo,
Sử dân lao thả ky?”
Thần viết: “Lai nhữ dân:
Thử phi ngã sở tri!
Ngô duy thị ẩm thực,
Vũ phi ngô năng vi”.
Thần kim thả như thử,
Ư dân phục hề nghi?

Top những bài thơ hay nhất của nhà thơ Nguyễn Khuyến – Thơ chữ Nôm

Top những bài thơ hay nhất của nhà thơ Nguyễn Khuyến - Thơ chữ Nôm
Top những bài thơ hay nhất của nhà thơ Nguyễn Khuyến – Thơ chữ Nôm

Cảnh Già

Nhớ từ năm trước hãy thơ ngây,
Phút chốc mà già đã đến ngay.
Mái tóc chòm đen, chòm lốm đốm,
Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay.
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ,
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say.
Ông ngẫm mình ông thêm ngán nỗi:
Đi đâu, giở những cối cùng chày.

Cảnh Tết

Năm ngoái, năm kia đói muốn chết,
Năm nay phong lưu đã ra phết!
Thóc mùa, thóc chiêm hãy còn nhiều
Tiền nợ, tiền công chưa trả hết.
Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng,
Ngoài ngõ bi bô rủ chung thịt.
Ta ước gì được mãi như thế,
Hễ hết Tết rồi, thời lại Tết!

Chợ Đồng

Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?
Dở trời, mưa bụi còn hơi rét.
Nếm rượu, tường đền được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.
Dăm ba ngày nữa tin xuân tới.
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.

Hoài Cổ

Nghĩ chuyện đời xưa cũng nực cười,
Sự đời đến thế, thế thời thôi!
Rừng xanh núi đỏ hơn nghìn dặm,
Nước độc ma thiêng mấy vạn người.
Khoét rỗng ruột gan trời đất cả,
Phá tung phên giậu hạ di rồi.
Thôi thôi đến thế thời thôi nhỉ,
Mấy trắng về đâu nước chảy xuôi.

Bạn Đến Chơi Nhà

Đã bấy lâu nay bác tới nhà.
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây ta với ta.

Ảnh Giả Điếc

Trong thiên hạ có anh giả điếc,
Khéo ngơ ngơ ngác ngác, ngỡ là ngây!
Chẳng ai ngờ sáng tai họ, điếc tai cày,
Lối điếc ấy sau này em muốn học.
Toạ trung đàm tiếu, nhan như mộc,
Dạ lý phan viên, nhĩ tự hầu.
Khi vườn sau, khi ao trước, khi điếu thuốc, khi miếng trầu, khi chè chuyên năm bảy chén, khi Kiều lẩy một đôi câu,
Sáng một chốc, lâu lâu rồi lại điếc.
Điếc như thế ai không muốn điếc?
Điếc như anh dễ bắt chước ru mà!
Hỏi anh, anh cứ ậm à!

An Mày

Gõ cửa làm chi quấy cả ngày
Hỏi ra mới biết lão ăn mày.
Ăn mày chớ có ăn tao nhé
Gạo kém, đồng khô thế mới rầy.

Bài Hát Ru Em

Hạ hơi hơi, hạ hời hời,
Nam nhi đứng ở trên đời,
Thông minh tai mắt là người trần gian.
Tang tình tang, tịnh tình tang,
Em thơ chị ẵm, em ngoan chị bồng.
Màn Đồng Tử, gối Ôn Công,
Lớn lên em phải ra công học hành.
Xinh ghê xinh gớm là xinh,
Tình tính tinh,
Sớm khuya cửa Khổng, sân Trình,
Dốc lòng nấu sử sôi kinh chớ rời.
Hạ hơi hơi, hạ hời hời,
Học là học đạo làm người,
Làm người phải giữ lẽ trời dám sai.
Làm trai cho đáng nên trai,
Ngày một, ngày hai,
Chớ đừng nay lại ngày mai,
Chớ đừng đi nghịch cho phai lòng vàng
Ngoan ngoan, ngoan thực là ngoan,
Bé cần học, lớn làm quan,
Khắp triều chu tử, đều làng thi thư.
Ư ư giữ khư khư,
Chiêu ư tư, tịch ư tư,
Văn chương thầy nước, thi thư báu nhà.
Ạ a a,
Ghê thậm là ghê,
Có công cách tri tu tề,
Khốn quẫn cũng biết, ngu si cũng hiền.
Khuyên khuyên khuyên thực là khuyên,
Lẻn lèn len,
Hễ mà có chí thì nên
Cầu kiều đã bắc dịp lên đấy rồi.
Đi chơi, chớ có đi chơi,
Chị khuyên em, em phải nghe lời,
Chim hằng bay,
Nga hằng lội,
Đáp cao núi Thái, tát vơi sông Thù,
Ru hời ru hỡi tình ru,
Cu cu hề cu cu,
Chèo thuyền đến bến thầy Chu,
Bút nghiên làm dấu võng dù cân đai.
Rõ bảng rõ bài,
Tranh khôi đoại giáp dễ nhường ai,
Chị Hằng Nga vốn yêu người niên thiếu,
Chuyên chuyên, em học cho chuyên,
Hi thánh hi hiền,
Kìa người tiến sĩ, trạng nguyên,
Cũng là học vấn cần chuyên những ngày.
Hay hay thế mới là hay,
Này đây này,
Cửa trời mở rộng đường mây,
Có công mài sắt có ngày nên kim.
Chị yêu em!
Nhẻm nhèm nhem,
Nắm nem không thèm,
Một nhà đầm ấm ơn trên,
Mở giòng phiệt duyệt, rộng nền tổ tông,
Sênh sang áo phượng sân rồng,
Bõ công cha mẹ vẫy vùng áo xiêm,
Em ơi em hỡi em hời!
Muốn nên tai mắt ở đời,
Thì em phải nhớ lấy lời chị ru.
Ru hời ru hỡi tình ru!

Cá Chép Vượt Đăng

Cá thần vùng vẫy vượt qua đăng,
Được nước, nào ai dám rỉ răng?
Cưỡi gió giương vây lên cửa Vũ,
Xông mây rẽ sóng động vừng trăng,
Giếc, rô ngứa vẩy khôn tìm lối,
Trê, chuối theo đuôi dễ mấy thằng!
Gặp hội hoá rồng nơi chót vót
Đã lên, bay bổng tít bao chừng?

Cảm Hứng Tuổi Già

Tháng ngày thấm thoắt tựa chim bay,
Ông gẫm mình ông, nghĩ cũng hay.
Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ!
Răng long ngày trước hãy còn đây.
Câu thơ được chửa? Thưa rằng được.
Chén rượu say rồi. Nói chửa say.
Kẻ ở trên đời lo lắng cả,
Nghĩ ra ông sợ cái ông này.

Châu Chấu Đá Voi

Châu chấu làm sao dám đá voi,
Đứng xem ta cũng nực cơn cười.
Loe xoe sấn lại dương đôi vế,
Ngứa ngáy không hề động nửa đuôi.
Hay giở cuộc này ba chén rượu,
Được thua chuyện ấy một trò chơi.
Nghĩ ra ta cũng thương mình nhỉ,
Theo đít còn hơn một lũ ruồi!

Câu Cá Mùa Thu

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Mẹ Mốc

So danh giá ai bằng mẹ Mốc,
Ngoài hình hài, gấm vóc, cũng thêm ra.
Tấm hồng nhan đem bôi lấm xoá nhoà,
Làm thế để cho qua mắt tục.
Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc,
Tâm trung thường thủ tự kiên kim
Nhớ chồng con muôn dặm xa tìm,
Giữ son sắt êm đềm một tiết.
Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết,
Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ,
Đắp tai ngảnh mặt làm ngơ,
Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây.
Khôn em dễ bán dại này!

Lên Lão

Ông chẳng hay ông tuổi đã già,
Năm lăm ông cũng lão đây mà.
Anh em làng xóm xin mời cả,
Xôi bánh, trâu heo cũng gọi là.
Chú Đáo bên làng lên với tớ,
Ông Từ xóm chợ lại cùng ta.
Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ,
Có rượu thời ông chống gậy ra.

Khuyên Vợ Cả

Ta chẳng như ai lối nguyệt hoa
Trước là ngẫm nghĩ nỗi gần xa:
Lấy năm thì cũng dành ngôi chính,
Dấu bẩy càng thêm vững việc nhà.
Mọi việc cửa nhà là việc nó
Mấy con trai gái ấy con ta.
Thôi đừng nghĩ sự chi chi cả:
Chẳng chữ gì hơn chữ thuận hòa!

Trên đây là tổng hợp bộ sưu tập những bài thơ hay và nổi tiếng của nhà thơ Nguyễn Khuyến mà Kiến Thức Tổng Hợp đã sưu tầm. Hy vọng qua bài viết này, các bạn có thêm thông tin về nhà thơ Nguyễn Khuyến.

Related posts

Leave a Comment